Thành phần hóa học của Sỏi thận.

Trong một nghiên cứu hợp tác tại Pháp liên quan đến 51.747 viên sỏi giữa tháng 1 năm 2001 và tháng 12 năm 2004 bởi nhiều phòng thí nghiệm cho thấy: calci oxalat là thành phần phổ biến nhất, chiếm 71,8% số sỏi. Trong số các thành phần chính khác, phosphat calci đại điện cho 13,6% số trường hợp, carbapatite chiếm 11,4%. Acid uric là thành phần lớn thứ ba với 10,8% tổng số sỏi.

Bảng tần suất (%) thành phần chính trong sỏi tiết niệu ở Pháp

Loại sỏi Tần xuất %
Calci oxalat 71.8
Whewellite 50,1
VVeddellite 21,7
Calci phosphat 13.6
Carbapatìte 11.4
Brushite 1.5
Calci phosphat khác 0,7
Ammoniacomagnésien phosphat (struvite) 1.3
Sự hiện diện của struvite 4.5
Uric acid 10,8
Sự hiện diện của acid uric 12,8
Khác (bao gồm cystine, purine) 2.6

Struvite chỉ đại diện trong 1,3% các loại sỏi. Điếu này chứng tỏ tỷ lệ sỏi sinh ra do nhiễm khuẩn sinh ure đã giảm một cách đáng kể so với những thập niên trước đây. Do tính chất đặc biệt về bệnh sinh của sỏi struvite, nên sự có mặt của thành phần này là biểu hiện cho một nhiễm khuẩn đường tiết niệu mạn tính do vi trùng sinh urease. Bàng cho thấy sự hiện diện của struvite trong sỏi chiếm tỷ lệ cao gấp 3 lần tần suất sỏi mà trong dó struvite chiếm thành phần chính nghĩa la khoáng 5% tổng số sỏi có liên quan đến lây nhiễm vi khuẩn urease. Tỷ lệ này tương đối thấp của Sỏi struvite dường như phán ánh một bước tiến đáng kể trong việc phát hiện và điểu trị các bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở phụ nữ trẻ so với những năm 1980, thời điểm mà sỏi struvite đã có mật tại 25 • 30 % tổng số sỏi.

سنگ-کلیه-1

Cuối cùng, còn 2.6% sỏi có một thành phần cấu tạo đặc biệt. Những thành phẩn quan trọng nhất trong nhóm nàỵ bao gồm cvstine (khoảng 0,9% trường hợp) thuốc (khoáng 0.5%), các protein mềm (khoáng 0.5%) và các punne hiếm như dihydroxv-2 ,8-adenine hoặc xanthine. cũng như các urate (urate amoni urate natne và kah). ở Việt Nam, tất cả các mẫu sỏi được phân tích đều có từ 2 thành phần trở lên, trong đó thành phần hay gặp nhất là oxalat calci (tỷ lệ gặp 90,7%). Sau đó mới đến phosphat calci, Btruvite, amoni urat hay uric, cyatin. Phân tích 91 mẫu 801 lây từ một số bệnh viện phía Bắc Việt Nam, bằng phương pháp quang phổ hồng ngoại, Nguyễn Tiến Khanh và cs (1993) cho kết quả về thành phẩn hoá học của sỏi như dưới đây:

Bảng thành phần sỏi thận

STT Thành phần Tỷ lệ % STT Thành phần Tỷ lệ %
1 CaOx + APA ♦ AmU 58,95 7 CaOx + MAP + APA + AmU 3,16
2 CaOx ♦ APA 10.53 8 CaOx + MAP + APA 2,11
3 CaOx ♦ AmU 9.47 9 CaOx♦ UA 1,05
4 CaOx + APA + UA 5,26 10 CaOx ♦ MAP 1,05
5 CaOx + APA + AmU ♦ UA 4,21 11 CaOx ♦ MAP + AmU 1,05
6 CaOx + AmU ♦ UA 3,16

CaOx: Oxalate calci;                                           APA: apatit;

AmU: Amoniaco-urat;                                         UA: acid uric;

MAP: Magnesí-amoni-phosphat;

Qua bảng 1.5 ta dễ dàng nhận thấy oxalate calci có mặt trong hầu hết các mẫu sỏi và đây cũng là thành phần chính trong 96,84% các mẫu sỏi được nghiên cứu. Thành phần hoá học khác nhau giữa các lớp trong một viên sỏi, giữa các viên sỏiI trong cùng một cơ thể và sỏi của các cá thể càng khác nhau. Vì vậy, gọi tên một cách chính xác cho thành phần hoá học của sỏi tiết niệu trên một bệnh nhân là một điều rất khó. Thông thường người ta gọi tên sỏi theo từng yêu cầu quan tâm cụ thể. Ví dụ: nếu chỉ quan tâm đến các gốc anion, người ta gọi là sỏi oxálat. urat hay phosphat; khi quan tâm tới gốc cation người ta gọi là sỏi calci, sỏi amom hay sỏi phosphat.

Người ta cũng gọi tên sỏi theo thành phần chính của sỏi (thành phần có tỷ lệ cao hơn hẳn các thành phân khác). Thành phần hoá học của sỏi tiết niệu cũng thay đổi theo từng vùng lãnh thổ, theo tập quán ăn uống của các cộng đồng khác nhau. Ví dụ: sỏi hữu cơ (sỏi urat, cystin, xantin) ở Việt Nam có tỷ lệ từ 1 – 4%, trong khi ờ Đức là 13%, ở Mỹ là 7%: còn sỏi struvite (PAM) ở Việt Nam có tỷ lệ là 3% ờ Đức là 17%, còn ờ Mỹ là 50%.