Tán sỏi và những biến chứng có thể gặp phải.

Thời gian gần đây, chúng tôi nhận được nhiều câu hỏi của bệnh nhân sỏi thận hỏi về việc có nên tán sỏi hay không? Và những nguy cơ nào thường gặp khi tán sỏi.

Tán sỏi ngoài cơ thể là phương pháp điều trị sỏi ít xâm lấn. Tùy vào vị trí của sỏi bác sỹ sẽ có chỉ định thích hợp. Tuy nhiên, ngay cả Bác sỹ cũng cho rằng, tán sỏi là liệu pháp cuối trong điều trị sỏi thận khi mà các liệu pháp khác không thành công, bởi tán sỏi vẫn có nguy cơ biến chứng. Các tai biến – biến chứng của tán sỏi liên quan tới những mảnh vỡ sỏi, nhiễm khuẩn, tác động cùa sóng xung lên tổ chức và chức năng thận, khả năng tái phát sỏi cao.

Tán sỏi và những biến chứng có thể gặp phải.

1. Tắc niệu quản liên quan đến mảnh vỡ của sỏi

Mảnh sỏi vỡ sau tán sỏi không qua được niệu quản gây tắc là một biến chứng chiếm tỉ lệ cao trong số các biến chứng của tán sỏi ngoài cơ thể. Nguvên nhân của biến chứng này có thể do sỏi vỡ thành các mành lớn gây tắc niệu quản hoặc sỏi đã vỡ vụn được đào thải xuống niệu quản tập trung lại tạo nên cột cát làm tắc đường dẫn niệu. Tắc niệu quản do nhiều mảnh sỏi di chuyển xuôhg niệu quản với tỳ lệ 15%, dây là biến chứng nặng nhất trong thủ thuật này.

2. Đau quặn thận

Nguyên nhân đau quặn thận sau tán thường do tắc niệu quản do các mảnh sỏi lớn, ngoài ra có thể máu cục trong niệu quản hay co thắt niệu quản.

Đau quặn thận sau tán với tỷ lệ 10 • 15%.

3. Tụ máu tại thận

Sóng xung gây tổn thương cho nhu mô thận từ nhẹ tới nặng. Tổn thương nhu mô thận nhẹ với biểu hiện đái máu sau tán, thường nước tiểu màu hồng nhạt vài lần sau tán sau dó trong ngay. Tổn thương nhu mô thận nặng hơn với biểu hiện tụ máu dưới vỏ, tụ máu trong nhu mô, cả 2 loại tụ máu này đều nhẹ và khỏi sau 1 tuần, ít trường hợp tụ máu lớn cần can thiệp.

4. Thay đổi chức năng thận và tổn thương ống thận, cầu thận

Trái với những nghiên cứu đầu tiên vào những năm 1980 cùa Hoff, Behrendt, Fossmann, Chaussy,… cho rằng sóng xung không có hại cho cơ thể, gần đây cả trên thực nghiệm và lâm sàng đã chứng minh sóng xung có gây tổn thương chức năng thận, tổn thương cả ống thận và cầu thận. Thay đổi chức năng thận nhẹ, thường hồi phục sau 1 tuần, do dó các tác giả khuyên tán lại khi các xét nghiệm trên trở về bình thường hay sau 5-7 ngày.

5. Tăng huyết áp

Thay đổi tăng huyết áp sau tán sỏi ngoài cơ thể với tỷ lệ 0,7% với biểu hiện, nồng độ angiotensin II cao hơn trước khi tán sỏi, tăng mức độ và giai đoạn của nhũng bệnh nhân trước đó có tăng huyết áp.

Tỳ lệ 8,2% bệnh nhân có huyết áp bình thường vào thời điểm tán sỏi đã mắc chứng tăng huyết áp cần phải dùng thuốc hạ huyết áp, trong khoảng thời gian theo dõi trung bình là 1,5 năm.

6. Biến chứng tim mạch

Sóng xung có thể gây loạn nhịp tim, làm xuất hiện và tăng mức độ ngoại tâm thu đặc biệt với loại máy sóng thủy lực. Do dó không nên tán ở những bệnh nhân có ngoại tâm thu.

7. Tổn thương các cơ quan lân cận

Xuất huyết dưới da hay tụ máu dưới da.

  • Tụ máu hay tràn máu khoang màng phổi.
  • Viêm tuỵ cấp do thương tổn.
  • Tụ máu thành ruột, hay chảy máu vào trong lòng dạ dày, tiểu tràng, đại tràng.

8. Nhiễm khuẩn niệu

Sau tán với tỷ lệ nhiễm khuẩn niệu 5%, hay gặp khi tán sỏi bệnh nhân đang có nhiễm khuẩn niệu không được phát hiện, hay tán sỏi struvite.

Tỳ lệ nhiễm khuẩn càng cao khi tán sỏi đường kính > 2cm có đặt thông double J trước khi tán sỏi.

9. Sỏi tái phát

Thường tỉ lệ tái phát sau 1 năm là 6%, sau 4 năm là 20%. Pearle và cs (1999) cho rằng tỷ lê tái phát sỏi sau tán sỏi cao do mảnh sỏi còn sót sau điều trị. Các tác giả gợi ý rằng các mảnh sỏi mịn sau tán sỏi còn lại trong thận sẽ lắng đọng trong các đài thận, nhất là đài dưới, làm hạt nhân để tạo sỏi mới.