Sinh lý bệnh của sự bít tắc niệu quản và sau giải phóng tắc niệu quản

Quá trình phát sinh và phát triển sỏi tiết niệu (STN), từ những viên sỏi nhỏ hình thành từ thận, sau đó sỏi rơi xuống, mắc kẹt, rồi phát triển. gây biến chứng cho thận. Một số ít sỏi không hình thành tại thận, hình thành tại niệu quản, bàng quang và niệu đạo thường do có các dị dạng như túi thừa, tắc nghẽn hay các dị tật khác.

03 giai đoạn phát sinh sỏi

1. Giai đoạn sớm: sỏi phát sinh, di chuyển và chưa gây ứ tắc đường niệu

Khi sỏi mới hình thành, sỏi chưa gây triệu chứng và các biến chứng, giai đoạn này thường kéo dài khoảng 2 năm Giai đoạn này chưa có các triệu chứng hay triệu chứng rất mờ nhạt, người bệnh thường không để ý. Nếu phát hiện và điều trị nội khoa có hiệu quả đến 80%.

Khi bế tắc cấp linh niệu quản một bên, sự thay đổi của lưu lượng máu đến thận và áp lực bên trong niệu quản diễn biến qua 3 giai đoạn (Moody.1975):

– Giai đoạn đầu. áp lực bên trong niệu quản và lưu lượng máu đến thận đều tăng, tiểu động mạch đều giãn ra. lưu lượng máu đến thận vẫn còn duy trì khoảng 80% so với mức bình thường, giai đoạn này kéo dài từ 1 đến 1,5 giờ.

– Giai đoạn hai, lưu lượng máu đến thận giảm nhưng áp lực trong niệu quản tiếp tục tăng, tiểu động mạch co lại. Giai đoạn này kéo dài đến giờ thứ 5 sau tắc nghẽn

– Giai đoạn ba, lưu lượng máu đến thận tiếp tục giảm và áp lực trong niệu quản bắt đầu giảm theo. Cả tiểu động mạch đến và tiểu động mạch đi đều co lại. Lúc này áp lực lọc của cầu thận cũng giảm, chỉ bằng 20% đến 30% giá trị bình thường.

Tuy nhiên, sau một thời gian bế tắc kéo dài, áp lực bên trong hệ thống đài bể thận lại giảm xụống là do: cơ trơn của bể thận – niệu quản mất trương lực giãn ra; áp lực lọc của cầu thận và lưu lượng tưới máu đến thận đều giảm đi: có sự tái hấp thu nước tiểu của ống thận, của hệ thống bạch mạch (pyelolymphatic reílux) và tĩnh mạch thận (pyelovenous reflux).

ImageHandler

2. Giai đoạn cần can thiệp

Khi sỏi đã tắc nghẽn không di chuyển, đã có triệu chứng, có một số biến chứng như giãn đài bể thận, chưa gây biến chứng nặng (có thể hồi phục chức năng thận sau lấy sỏi).

Các triệu chứng rõ ràng như đau và đái máu do SỎI có tắc nghẽn gây ứ niệu, các biến chứng rất nhẹ, nếu phát hiện ta áp dụng các phương pháp ít sang chân can thiệp rất có hiệu quả có lợi cho người bệnh.

3. Giai đoạn muộn

Sỏi đã gây biến chứng nặng (nhiễm khuẩn. ứ niệu, ứ mủ thận, mất chức năng thận, viêm thận bể thận xơ teo).

Mỗi giai đoạn đều có những đặc thù riêng,cần có những thái độ xử trí thích ứng, kịp thời mổ! mang lại kết quả điều trị tốt nhất với 2 mục đích: loại trừ SỎI ra khỏi đường tiết niệu và các biến chứng của nó: tái lập sự thông thoáng của đường tiết niệu và ngăn ngừa sỏi tái phát.