Một số yếu tố nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu (P2)

Các yếu tố nguy cơ ngoại sinh (Môi trường)

1. Địa dư

Trong khi sỏi thận phổ biến ở những vùng có khí hậu nóng, thì một số nhóm cư dân bản địa ỏ những vùng đó lại có tỷ lệ mắc thấp (người da đen châu Phi, thổ dân),cũng như dân cư ở nhiều vùng khí hậu ôn đới lại có tỳ lệ mắc cao (Bắc Âu và vùng Scandinavi). Điều đó có thể giải thích do liên quan tới chế độ ăn quá dư thừa mà không cân đốì của người phương tây, uống ít nước, ít vận dộng…………………. kết hợp với yếu tố di truyền dẫn đến sự hình thành sỏi.

2. Khí hậu và mùa

Nguy cơ mắ bệnh sỏi tiết niệu có thể không đến trực tiẽp từ yếu tố địa dư. Mà thông qua nhiệt độ môi trường (quy định bởi vị trí đa lý). Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có sự liên quan giữa tỷ lệ mới mắc bệnh sỏi tiẽt niệu theo yếu tố nhiệt độ môi trường và yếu tố mùa Prince vács (1956) nhận thấy tỷ lệ mới mắc bệnh sỏi tiết niệu tăng lên trong những tháng mùa hè. Pnnce và Scardino (1960) tiếp tục tiến hành những phân tích tiến cửu của báo cáo trên đối với 922 bệnh nhân sỏi niệu quản. Và một lần nữa. các số liệu cho thấy tỷ lệ mới mắc cao ở tháng 7 tháng 8 và tháng 9; trong đó tý lệ mới mắc cao nhất gấp trong vòng 1 đến 2 tháng sau khi nhiệt độ đạt tới đỉnh cao nhất trong năm ở vùng tiến hành nghiên cứu.

Bateson (1973) trong báo cáo vế tỷ lệ mới mắc bệnh sỏi đường tiết niêu trên ờ vùng Perth thuộc phía tây Australia, cho thấy tỷ lệ mới mắc tâng lên trong khỏang từ tháng 12 đến tháng 3 Đó cũng là những tháng có nhiệt độ cao nhất ở vùng này. Baker và cộng sự (1993) điều tra khả năng mắc bệnh SỎI thận ở dân miền Nam Australia trong thời gian từ năm 1977 đến năm 1991. Số liệu cho thấy sự biên động theo mùa cùa tỷ lệ mắc sỏi calci oxalate cũng như sỏi calci phosphate là không rõ rệt Đối với sỏi acid unc, tỷ lệ mới mắc tăng lên rõ rệt vào mùa hè và mùa thu; còn tỷ lệ mới mắc của sỏi nhiễm khuẩn thi giảm đáng kể vào mùa xuân và mùa hè. Sỏi đường tiết niệu thường gặp trong mùa hè, tỷ lệ mới mắc cao nhất thống kê được trong tháng hoặc sau thời gian nóng nhất của mùa hè mà có thể suy đoán được là do:

  • Nhiệt độ môi trường tăng cao làm tăng bài tiết mồ hôi, nước tiểu vì vậy sẽ được cô đặc lại, làm tăng nguy cơ hình thành các tinh thể Hallson và Rose (1977) quan sát thấy tinh thế niệu ờ những bệnh nhân sỏi tiết niệu trở nên to hon vào mùa hè. Sự cô đặc nước tiểu tăng lên khi trời nóng bức (tăng quá trinh tinh thể hóa)Nước tiểu cỗ dặc có pH thấp, tăng nguy cơ tạo sỏị cvstin và sỏi urat Những bệnh nhân có xu hướng mắc sỏi uric acid hoặc sỏi cystin có thêm một nguy cơ Đó là nươc tiểu cô đặc mang tính acid. khả năng giữ được acid uric cùng như cystin hoà tan là thấp, do vậy tàng nguy cơ hình thành nhùng tinh thể này.
  • Parrv và Lister (1975) đưa ra một quan điểm khác, họ cho ràng viẻc de da hớ tiếp xúc nhiều VỚIánh náng mặt trời làm tảng tống hợp vitamin 03 nội sinh và do đó làm lãng bài calci niệu Hiện tượng dó có thẻ là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ mới mắc bệnh sỏi tiết niệu trong những tháng mùa hè.
  • Uống ít nước uống ít nước (< Ị200ml/ ngày) làm tăng nguy cơ hình thành sỏi. Một trong những thuyết được nhiều tác gia chấp nhận trong những tài liệu về SỎI tiết niệu tư trước tới nay lã việc uống nước nhiều, làm tăng bài niệu và do đó làm giam khả năng mắc bệnh sỏi tiết niệu. Trong sự liên quan giữa uống nước và SỎI tiết niệu,có 2 yếu tố(l) là thể tích nước uống vào cũng như sự mất nước qua mồ hôi và hô hâp. (2) là hám lượng khoáng chất có trong nước uống.

Một số yếu tố nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu (P2)

Các khoáng chất có trong nước cũng góp phần tăng nguy cơ tạo sỏi. Một sô tác giả cho răng nước quá cứng (ví dụ có chứa natri carbonate) làm tàng tý lệ mới măc sói (Sierakowski và cs. 1978). Uống nhiều “nước cứng” (hàm lượng calci cao) ít có nguy cơ tạo SỎI do tác dụng làm giàm oxalate nước tiểu. Tuy nhiên, số liệu trong nghiên cứu của Sierakowski còn nhiều máu thuẫn (Churchill và cs, 1980; Shuster vá cs. 1982). Caudrella và cs (1998) dãđưa ra giải thích cho những mâu thuẵn dó. Ong đánh giá ành hường của 3 loại nưỏc khoáng khác nhau trên phân tích nước tiểu ờ 22 bệnh nhân sỏi calci oxalate nguyên phát. Uống nước cứng gây nên một biến đôi thuận nghịch: giảm bài tiết oxalate di dôivỏi tâng bài tiết citrate. Do dó. việc tăng cường uô’ng nước, thặm chí với hàm lượng calci cao. dã ức chế sụ bài tiết các loại muôicó khà nâng tạo sõi, làm giảm quá trình tinh thể hoá calci oxalate. Tuy nhiên, một số tác già khác lại không đưa ra được kết quà tương tự như Caudrella (Bellizzi và cs. 1999). Họ không thấy hiện tưựng giảm bài tiết oxalate hay tâng bài tiết citrate niệu khi uống nhiểu nước cứng.

Các yếu tố vi lượng trong nưỏc cũng có liên quan đến sự hình thành sỏi tiết niệu. Theo Klliot & Eusebio (1967). kẽm ửc chê quá trình tinh thê hoá calci. Hàm lượng kẽm trong nước uống thấp có thể làm tàng nguy cơ tạo sỏi. Tuy nhiên, Yendt và Cohanim (1973) có báo cáo kêt luận ràng diều trị bàng thiazide làm giảm tỳ lệ sỏi tái phát ớnhững bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu. VỚInồng độ kẽm trong nước tiều rất thấp.

3. Yếu tố nghề nghiệp

I/msdale(1968) cho ràng những người mà có công việc tĩnh tại. ít vận dộng có tihiếu khá nâng mác bệnh SỎI tiết niệu hơn những người khác. Đlacklock (1969) thấy tý lệ mới mác SÓItiết niệu ớ nhửng nhản viên hành chinh hoặc bàn giấy của lực lượng Hái Quán Hoàng Gia cao hơn ớ những người cõng nhản laọ dộng chán tay. Trong số đó, những nhân viên nấu ăn và phục vụ phòng có tý lệ mới mắc bệnh sỏi cao nhất.

Sutor and Wooley (1974) dánh giá mối tương quan giửa nghế nghiệp và tỳ lệ mới mác trên 856 bệnh nhán. Nhóm tri thức và quán lý có tý lệ mới màc cạo hơn dự kiên Trong khi đó nhóm công nhân lao dộng chân lay có tý lệ mới mác thảp hơn 80 VỚIdự kiến. Whitson và cs (1993) thàm khám những nhà du hành vũ trụ sau thời gian làm việc ngoài không gian trong điều kiện không trọng lượng. Các số liệu cho thấy, nguy cơ mắc bệnh sỏi calci oxalate và acid uric lâng lên sau chuyến bay do nhũng nguyên nhân như tâng calci niệu, giàm bài tiết citrate niệu,dộ pH cũng như thể tích nước tiểu giàm.

Robertson và cs (1980) tiến hành một nghiên cứu lớn về mốì liên quan giữa nghề nghiệp, tầng lớp xã hội và nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu. Họ thấy rằng nguy co hình thành sỏi calcareous tăng chủ yếu ờ những quốc gia, vùng miên, tảng lốp xã hội hay cá nhân giàu có. Nguyên nhân là do àn nhiều protein dộng vặt. dãn đến hiện tượng tàng nồng độ calci. oxalate và uric acide trong nước tiểu. Trèn thực tế. các tác giá dã khuvến cào những bệnh nhân sỏi calci oxalate tái phát nên chuyển sang chế độ ăn chay (Robertson et ai, 1979). Rất khó để chúng ta có thế xác dinh liệu nghề nghiệp có phải là yếu tố chủ đạo trong các yếu tố nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu, hay những viên sỏi chi dơn thuẩn dược hình thành qua các tác động cùa môi trường, như chẻ độản. ánh náng mặt tròi và chế độ uống nước. Sự biến dổi của những yếu tố trên có thể được cho là nguyên nhân cùa bệnh sỏi tiết niệu trong thời điểm hiện nay.

4. Stress và bệnh sỏi thận

Một điếu rất rõ ràng là khi mắc bệnh sỏi thận, bệnh nhân thường bi stress. Tuy nhiên, một cuộc sống luôn luôn cáng thảng có thê liên quan dẽn nguy cơ mẩc bệnh sỏi thận thì chưa có nhiều người nghĩ và đề cập tới. Najem (1997) tiên hành nghiên cứu trên 200 trường hợp sòi thận có triệu chửng và nhóm chứng gồm 200 người để kiểm chứng giả thuyết trên. Kết quả cho thấy có sự liên quan rõ rệt giữa bệnh sỏi thận với thu nhập thấp, cầm cố thế chấp tài sản và cuộc sống có nhiều xáo trộn về tâm lý, tình cảm.

5. Chế độ ăn uống

Chế độ ăn nhiều đạm động vật làm tăng khả năng mắc bệnh sỏi tiết niệu (nồng độ oxalate trong nước tiểu cao, độ pH thấp, nồng độ citrate thấp). Ăn mặn cũng làm tăng nguy cơ tăng calci niệu. Trái ngược với quan điểm trước đây chế độ ăn ít calci tăng nguy cơ tạo sỏi và ngược lại, chế độ ăn nhiều calci làm giảm nguy cơ này.

Ản một số thức ăn mà nước tiểu bài tiết ra nhiều các chất tạo sỏi như- punne (acid uric), oxalate, hoặc calci, phosphate.

  • Một số yếu tố nguy cơ khác
  • Thường xuyên lao dộng trong điểu kiện nóng.
  • Thức ăn nhiếu đạm và mỡ động vặt.
  • Thức ăn ít chất xơ.

Thường xuvên dùng một số loại thuốc như thazid, vitamin c, vitamin D.