Một số yếu tố nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu (P1)

Quan điểm cổ điển, có 3 nhóm nguyên nhân hình thành bệnh sỏi tiết niệu: Nguyên nhân tại hệ tiết niệu như nhiễm khuẩn niệu, các dị dạng đường tiết niệu… Nguyên nhân toàn thân ngoài hệ tiết niệu như bệnh cường tuyến giáp trạng, bệnh gout…và Nguyên nhân do môi trường.

Tuy nhiên, có người có nguyên nhân nhưng không có sỏi tiết niệu. Do đó các nghiên cứu gần đây đã tim ra các yếu tố nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu. Các yếu tố nguy cơ bao gồm yếu tố nội sinh (bên trong cơ thể) và yếu tố ngoại sinh (bên ngoài môi trường), sự kết hợp các yếu tố đó góp phần làm tăng nguy cơ tạo sỏi.

Các yếu tố nguy cơ Nội sinh

1. Tuổi và giới tính

Sỏi tiết niệu thường gặp trong khoảng từ 20 • 40 tuổi (Fetter & Zimsktnd. 1901.Blacklock. 1969. Pak. 1987). tuy nhiên ờ hầu hết các bệnh nhân đều cho thấy có những bằng chứng khởi phát từ tuổi thanh thiếu niên (13 -19 tuổi).

Tỷ lệ nam/nữ là 3/1. tuy nhiên, trong những trường hợp sỏi tiết niệu xuất hiện trên nền của viêm đường tiết niệu mạn tính thì tỷ lệ bệnh ở nữ giới lại cao hơn nam giới (Baker. 1993) Nhiều tác giả cho rằng xu hướng mắc bệnh sỏi tiết niệu từ khi còn nhỏ (<13 tuổi) ở cả nam và nữ là cân bằng nhau (Prince & Scardino, 1960; Malek & Kelalis. 1975). Giả thuyết này cùng với những báo cáo về tình trạng tăng oxalate nội sinh (do gan sản xuất) khi nồng độ testosteron trong huyết thanh tăng (Liao &Richardson. 1972), Finlavson (1974) đã hướng tới kết luận là nóng độ tpslosteron trong huyết thanh thấp góp phần ngăn ngừa sỏi oxalate hình thành ờ trẻ em và phụ nữ. Nghiên cứu của Fan (1999) cho thấy androgen có tác dụng làm tăng bài tiết oxalate niệu, nồng độ oxalate huyết thanh,sự tích tụ tinh thể calci oxalate ở thận. trong khi đó estrogen có tác dụng ngược lại Van Asvvegen và cs (1989) thấy rằng nồng độ tẹstosteron nước tiểu của bệnh nhân sỏi tiết niệu giảm đi khi được điều trị. VVelshman và McGeown (1975) đã chứng minh được nồng độ citrate nước tiểu của nữ cao hơn nam giới và họ cho rằng đó là nguyên nhân sỏi tiết niệu ít gặp ớ nữ giới hơn ở nam giới Yagisavva và cs (1998) quan sát thấy ở những bệnh nhân nữ bị sỏi tái phát có nồng độ citrate nước tiểu thấp hơn ở những bệnh nhân nữ mới bị mắc bệnh lần đầu.

2. Chủng tộc

Có rất nhiều tài liệu cho thấy rằng bệnh sỏi tiết niệu tương đối ít gặp ớ những người thổ dân châu Mỹ, người da đen (châu Phi. Mỹ), người Israel bản xứ. Ngược lại, tỷ lệ mới mắc cao nhất thống kê được ờ những vùng có nhiệt độ thấp hơn như người châu Á và người da trắng.

Tỷ lệ mới mắc của sỏi bàng quang có liên quan đến chế độ ăn uống thiếu dinh dưỡng ở những nước kém phát triển và ờ những bộ lạc nguyên thủy. Khi chế độ ăn uống được cải thiện qua nhiều năm, vị trí xuất hiện của sỏi thường gặp hơn ở thận thay vì ở bàng quang (Sutor. 1972).

poznaj-cala-prawde-na-temat-tycia-w-ciazy-114616

3. Di truyền

Hàng loạt các rối loạn mang tính di truyền là nguyên nhân gây bệnh sỏi tiết niệu. Nghiên cứu của Sowers và cs (1998) trên 1309 bệnh nhân sỏi thận nữ giới dựa theo điều tra dân số cho thấy sự hình thành sỏi thận không có sự liên quan đến cộng đồng nơi cư trú, chế độ ăn nhiều oxalate, calci và giàu năng lượng Trong nghiên cứu của Gram (1932) và Goldstein (1951) cho rằng sự hình thành sỏi tiết niệu trên bệnh nhân có những thay đổi về vị trí giải phẫu có tính di truyền Những nghiên cứu về gen được Resnick (1968) và Mc.Geown (1960) cũng kết luận bệnh sỏi tiết niệu liên quan đến việc thiếu hụt một số gen.

Khoảng 25% bệnh nhân sỏi thận có tiền sử gia đình, Curhan -1997, Resnick • 1968. Tuy nhiên, VVhite (1969) cho rằng không nên dễ dàng chấp nhận thuyết hình thành sỏi mang yếu tố gia đình. Ông chỉ ra rằng trong số những người đã lập gia đình thì nồng độ calci niệu của nhóm đã hình thành sỏi tiết niệu cao hơn rõ rệt nhóm không có SỎI. White cho rằng chế độ ăn và những thói quen sinh hoạt trong gia đình cần được xem như một yếu tố trong thuyết hình thành SỎI tiết niệu. Curhan và cs (1997) thấy rằng ở nam giới, sỏi thận ở nhóm có tiền sử gia đình gặp nhiều hơn ở nhóm không có tiền sử gia đình. Một nghiên cứu tiên cửu trên 37.999 nhân viên y tế nam cho thấy tỷ lệ này là 3/1. Nguy co này vần còn cao ngay cả khi đã điều chỉnh một loạt các yếu tố nguy cơ khác như lượng calci đưa vào cơ thể’ cũng như sự bài tiết các chất trong nước tiểu.

Bệnh nhiễm acid ống thận (Renal tubular acidosis, RTA) là một bệnh di truyền, mà bệnh này có tỷ lệ mắc sỏi thận và vôi hóa thận khoảng 73% (Dretler và cộng sự. 1969: Marquardt. 1973; Giugliam và cộng sự, 1985). Bệnh nhiễm acid ống thận (làm tăng nguy cơ tạo sỏi calci phosphate) có liên quan đến 70% bệnh nhân sỏi thận

Bệnh sỏi cvstine có tính di truyền. Xuất hiện trên bệnh nhân có kiểu gen lặn đồng hợp từ (Crawhall và VVatts. 1968). Bệnh gây nên bài tiết ra nước tiểu quá mức các acid amin: cystinẹ, ornithme. lvsine và arginme. nhưng chỉ có cystine là không hòa tan trong nước tiểu tạo sỏi. Sỏi cạlci trong bệnh cường calci niệu là bệnh có tinh chai di truyền trong gia đình theo thể nhiễm sắc thể thường (autosome)

Nghiên cứu cùa Sowers (1998) trên 1309 bệnh nhân sỏi thận ở nữ giới dựa theo điều tra dân số cho thấy sự hình thành sỏi thận không có sự liên quan đên cộng đồng nơi cư trú, chế độ ăn nhiều oxala.e, calci và gíàu năng lượng.

4. Các yếu tố nguy cơ nội sinh khác

  • Béo phì.
  • Tăng huyết áp.
  • Bệnh cường tuyến cận giáp.
  • Bệnh viêm đại• trực tràng-
  • Bệnh viêm khớp mạn tính.
  • Đã phẫu thuật cắt một phần dạ dày.
  • Các dị tật bẩm sinh đường tiết niệu.
  • Các bệnh lý gây tắc nghẽn đường tiết niệu.
  • Tỷ trọng nước tiểu cao.
  • Nồng độ phosphat máu và nước tiểu thấp.
  • Thể tích nước tiểu ít

>>> Xem tiếp: Một số yếu tố nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu (P2).