Cơ chế hình thành Sỏi tiết niệu (P2)

Các thuyết giải thích cơ chế hình thành sỏi: (tiếp theo)

3. Thuyết tác dụng của mucoprotein hay thuyết khuôn đúc

Theo Boyce, Baker, Simon thi sỏi tiết niệu loại calci, uric đều có một nhân khởi điểm hữu cơ mà cấu trúc của nhân này là mucoprotien hay còn gọi là muco polvsaccharid. mucoprotein là loại protein đặc hiệu rất giàu glucid, ở người bình thường nồng độ mucoprotein 90 • 120mg/24 giò, ở bệnh nhân sỏi tiết niệu, nồng độ này lên tới 500 – 1000mg/24 giờ. Mucoprotein acid rất dễ kết hợp VỚI calci để tạo một phức không tan, khởi điểm cho sỏi tiết niệu. Như vậy ngoài chất mucoprotein là chất keo che chở không cho các tinh thể lắng đọng tạo sỏi còn có mucoprotein loan tính làm nhân tạo sỏi. Bình thường muco porotein là một chất có nhiều ở  màng đáy ống thận, bằng thực nghiệm các tác giả thấy ở động vật thí nghiệm có sỏi tiết niệu, các ống thận tiết nhiều mucopoiotein hơn những động vật không có sỏi tiết niệu.

4. Thuyết bảo hòa quá mức

Theo Coe (1980). Elliot (1973), Finlavson (1974):có sự cân bằng giữa tốc độ hòa tan và tăng trưởng của các tinh thể trong dung môi. Ở giai đoạn này chưa có sự kết tinh của tinh thể.

Nếu nồng độ các ion tăng đến mức bão hòa, đạt đến điểm gọi là “sảm phẩm hòa tan” (solubility product), thì sẽ hình thành giai đoạn chưa ổn định (Metastable) và sỏi có thể kết tinh trên một nhân dị chất. Nếu nồng độ các ion tiếp tục tăng lên mức quá bão hòa. Đạt đến điểm gọi là “sản phẩm tạo thành” (íbrmation product), sỏi sẽ kết tinh một cách tự nhiên trên một nhân đồng chất ờ giai đoạn không ổn định (unstable). Nhiệt độ và pH của môi trường tác động lên các giai đoạn trên đây.

Các nhân sỏi được hình thành sẽ trôi theo dòng nước tiểu ra ngoài cơ thể hoặc kết tụ lại với nhau,đặc biệt trong môi trường quá bão hòa. Trong các nhân dị chất phải kể đến hiện tượng “chồng xếp” (epitaxy) giữa 2 cấu trúc tinh thể gần giống nhau,ví dụ tinh thể oxalat calci thường chồng lên tinh thể acid uric. Khi phân tích thành phần sỏi. có thể phát hiện một số thành phần hữu cơ thường có trong nước tiểu bình thường hay bị nhiễm khuẩn, một số tác giả gọi đó là khuôn đúc (matrix)

Như vậy có thể nói mọi thuyết chỉ giải thích được một khía cạnh, một giai đoạn của quá trình rất phức tạp. Tinh vi của cơ chế hình thành sỏi tiết niệu vấn đề này sẽ còn được nghiên cứu, khám phá bổ sung sau này.

slide_43-e1482419423742

5. Thuyết nhiễm khuẩn

Người ta đã xác định tương quan nhãn qua giữa nhiễm khuẩn niệu và sỏi tiết niệu Nhiểm khuẩn niệu tạo ra nhiều tiểu thể để trở thành hạt nhân hình thành sỏi đó là xác vi khuẩn. Xác bạch cầu mảng hoại tử…

Mặt khác, một số chủng loại vi khuẩn khi gây nhiễm khuẩn niệu mà điển hình là chủng Proteus là căn nguyên gây nhiễm khuẩn tiết niệu đứng hàng thu hại sau E.coli (tỷ lệ 17- 20%). Proteus là vi khuẩn có khả năng sinh urease mạnh nhất trong các giống vi khuẩn gây nhiêm khuân niệu. Vi khuẩn này có men phân hủy ure (urease) gây kiềm hóa nước tiểu, tạo ra các gốc amoni, magnesi… dẫn đến tăng khả năng lắng đọng amoniphosphat và tạo nên SỎI hình thành sỏi mà chủ yếụ là sỏi struvite (P.A.M). Bằng chứng cho cơ chế này là VI khuẩn Proteus chiếm một tỷ lệ 72% trong các trường hợp sỏi san hô.

Có trên 45 chủng vi khuẩn khác nhau sản xuất ra urease và protease. trong đó Proteus gặp trong 75% các trường hợp Sỏi nhiễm khuẩn, ngoài ra còn có Klebsiella, Pseudomonas, Providencia, Staphylococcus, Ureaplasma urealyticum cũng sản xuất ra urease trong khi E.coh rất ít khi sản xuất ra urease. Khi các chủng vi khuẩn có các men này xâm nhập vào thận, chúng tiết ra hai loại men.

Urease: men này thủy phân urease thành ammoniac và carbone dioxide làm kiểm hóa mạnh nước tiểu (pH >7,2). Sự kiềm hóa gây ra sự siêu bão hòa. gốc ammoni là nguồn gốc của sỏi struvite. còn carbonate apatite sinh từ C02 được phóng thích vào nước tiểu cũng do tác động của urease. Yếu tối độc hại của proteus dường như do urease.

Protease: protease tấn công vào đường bài xuất (đài, bể thận) gây nên sự thoái hóa của mô và bong tróc ra khiến các protein đó tràn vào trong lòng đường xuất tiết. Vai trò cùa các protein này trong sinh sỏi vẫn còn mơ hồ. chúng có thể đóng vai trò như chất nền cho sự kết dính của các tinh thể.