Cơ chế hình thành Sỏi tiết niệu (P1)

Hiện nay người ta đã biết sỏi tiết niệu là bệnh lý hay gặp và hay tái phát, tỷ lệ sỏi tiết niệu chiếm tỷ lệ khoảng 4 – 12% trong cộng đồng dân cư. Trên thế giới có những vùng có tỷ lệ sỏi tiết niệu cao gọi là vành đai sỏi. Việt Nam nằm trong vùng vành đai sỏi của thế giới.

Sỏi tiết niệu tuyệt đại đa số hình thành tại thận, sau đó sỏi theo dòng nước tiểu xuống khu trú ở bất kỳ vị trị nào trên đường tiết niệu. Trong nhóm bệnh sỏi hệ tiết niệu, sỏi thận chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 40%, sỏi niệu quản chiếm tỷ lệ 28%, sỏi bàng quang 26%, còn lại là sỏi niệu đạo chiếm khoảng 5%.

Mặc dù có nhiều nghiên cứu phục vụ cho công tác phòng bệnh và điều trị sỏi tiết niệu, nhưng tới nay nguyên nhân cơ chế bệnh sinh của sỏi tiết niệu còn chưa sáng tỏ, có nhiều giả thuyết giải thích về cơ chế hình thành sỏi tiết niệu, mỗi giả thuyết giải thích theo một khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên có một số nguyên nhân giả thuyết chung như sau.

Các thuyết giải thích cơ chế hình thành sỏi:

Cơ chế hình thành sỏi tiết niệu còn là vấn  phức tạp, chưa được xác định rõ ràng. Tuy vậy, nhiều tác giả đã xây dựng một số thuyết để mô tả cơ chế hình thành sỏi tiết niệu như sau (Coe – 1980; Elliot ■ 1973; Finlayson – 1974).

1. Thuyết keo-tinh thể (thuyết keo che chở của Butt)

Theo giả thuyết này, tất cả các loại dịch trong cơ thể như dịch mật, dịch tụy, nước bọt và nước tiểu đều bao gồm 2 thành phần chính đó là: các tính thể và chất keo (hay còn gọi là chất keo che chờ).

Các tinh thể bao gồm acid uric, acid oxalic. calci. cystin, xanthin…. các tinh thể này luôn có xu hướng lắng đọng và kết tụ với nhau tạo sỏi bình thường các tinh thể này không lắng đọng tạo SỎI được do lưu tốc dòng nước tiểu, các chất keo chỉ chờ luôn chuyển động va chạm và làm cho các tinh thể cũng chuyển động theo.

Các chất keo che chở niêm mạc đường niệu tiết ra. bản chất là các chất cao phân từ như mucin. muprotein, acid hyalurolic. acid nucleic… Các chất keo che chở này luôn có xu hướng chuyển động theo nguyên lý Braun, va chạm lẫn nhau và va chạm vào các tinh thể, không cho các tinh thể lắng đọng tích tụ và liên kết tạo sỏi

Nếu vì một lý do gì đó, các chất keo che chở giảm về số lượng hay chất lượng (trọng lượng phân tử giám di, chuyển động giảm), thì các tinh thể không bị va chạm có điều kiện lắng đọng tạo sỏi.

Số lượng chất keo che chở giảm về số lượng khi

  • Tình trạng nhiễm khuẩn niệu.
  • Cơ thể có rối loạn toàn thân như- hội chứng Cushing cơ thể trong trạng thái stress dẫn đến nồng độ adreahn tăng cao

Chất lượng chất keo che chở giảm khi:                                                                       ,

  • Có dị vật trong đường tiểu, các dị vật này là nhân thu hút các tinh thể để kết tụ thành sỏi.
  • Niêm mạc đường niệu bị viêm nhiễm
  • Nước tiểu kiếm hóa.

Có hiện tượng ử dọng nưóc tiểu như khi có dị tật bẩm sinh đường niệu, ứ phì đại lành tính tuyến tiền liệt.

sang

2. Thuyết hạt nhân

Mỗi viên sỏi tiết niệu đều được hình thành từ một “hạt nhân” ban đầu Do la các dị vật xuất hiện trong hệ tiết niệu (những đoạn chi không tiêu, những mảnh cao su mảnh ống dẫn lưu. manh kim khi…). Đôi khi người ta còn xác định được hạt nhân của sỏi còn là những tế bào thoái hóa. Tế bào mù. xác vi khuẩn, tổ chức hoại tử khối máu hốc giáng,… Những hạt nhân này là những cốt để các muối calci. phospho.magnesi bám vào. Bồi đầy đặn dễ tạo thành những viên sỏi.

Những tổn thương VI thể tại thận cũng được phát hiện và tìm thấy có mối liên quan tới sự hình thành sỏi Klintrarev (1966) cho rằng bệnh ống tiểu quản thận là nguyên nhân tạo sỏi. Một số tác giả còn cho rằng sự sừng hoá quá mức lớp biểu mô vùng nhu thận là nguyên nhân tạo sỏi. Epstein (1967) nêu lý thuyết về sự rối loạn tuần hoàn thận dẫn đến những tổn thương tế bào nội mạc ống sinh niệu, gây giảm các chất keo tạo ra nhiều “hạt nhãn” dể tích tụ các tinh thể hình thành sỏi

Giả thuyết của Randall: Randall (1973) đã đưa ra lý thuyết về những mảng vòi ở biểu mô xoang thận (máng Tubulin). là sự lắng đọng muối vôi vào những vết chợt loét ở lớp biểu mô đó. Theo Randall. nếu tháp thận bình thường nhẵn nhụi thì sỏi khó kết hợp. Ngược lại nếu các tháp thận thay đổi. Các đài thận lu lơ loét mất tinh trơn nhẵn thì các tinh thể bám dính sỏi. Cụ thể là sỏi đầu tiên được phát sinh tại vùng đáy các đài thận. Trên mảng Randall (plaque de Randall) ở các gai thận (nhu thận) cuối ống góp khi nơi này có thương tổn. Tại các gai này. khi nước tiểu chứa nhiều oxalate calci (bão hòa) lọc qua dãy,có thể ứ đọng calcidắn dán tạo thành một tinh thể calci ngay tạt dầu nón của các gai thận. Từ các tinh thể calci đầu tiên. Sỏi âm thầm phát triển lớn dần trong một thời gian dài. không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng và chỉ có th phát hiện được tinh có qua chụp X quang hoặc siêu âm khi đi khám sức khoẻ hoặc khám một bệnh khác. Theo B Dore (1999). thời gian không có triệu chứng kéo dài hàng năm. Sau 2 năm, chỉ có 29 sỏi rơi ra và di chuyển xuống đường tiết niệu dưới để ra ngoài. Tỷ lệ sỏi rơi xuống dưới sau 3 năm là 13 và nếu sau 5 năm thi sỏi rất khó tụ rơi và thoát xuống dưới ra ngoài

Khi sỏi bong ra khỏi gai thận, nhờ những tác động của nhu động dầy nước tiểu từ thận xuống bàng quang đẩy sỏi di chuyển xuống niệu quản Trên dưới di chuyển,sỏi dễ bị mắc kẹt lại tại những chỗ hẹp của niệu quản như đọan  – niệu quản,đoạn vắt chéo động mạch chậu và đoạn đổ vào bàng quang, hoặc trên đoạn niệu quản có chỗ bị hẹp do thương tổn viêm nhiễm phù nề hoặc bị chèn ép do xơ dính, do mạch chẹn ngang niệu quản.

Sỏi bị kẹt tại chỗ, tích tụ thêm calci phát triển to dần lên, chít hẹp dần lòng niệu quản, gây nên những cơn đau quặn thận, dần dần ứ tắc nước tiêu làm bệnh ngày càng trầm trọng thêm.

>>> Xem thêm: Cơ chế hình thành Sỏi tiết niệu (P2)